Tài sản dài hạn là gì?

Tài sản dài hạn là những tài sản của đơn vị có thời gian sử dụng, luân chuyển hoặc thu hồi dài (hơn 12 tháng hoặc trong nhiều chu kỳ kinh doanh) và có giá trị lớn (từ 10 triệu đồng trở lên). Qui định về giá trị có thể thay đổi theo từng quốc gia và từng thời kỳ khác nhau.

Ví dụ về tài sản dài hạn:

–  các khoản phải thu trong vòng trên 12 tháng

–  nhà xưởng

–  máy móc thiết bị

–  nhà văn phòng

–  quyền sử dụng đất

–  bản quyền tác giả

–  nhãn hiệu thương mại

Trong tài sản dài hạn người ta thường phân biệt thành các khoản phải thu dài hạntài sản cố định. Các khoản phải thu dài hạn biểu hiện quyền đòi nợ của đơn vị đối với con nợ trong thời hạn trên 12 tháng. Nếu đơn vị có khoản phải thu chứng tỏ vốn của đơn vị đang bị người khác chiếm dụng. Trong kinh doanh, việc chiếm dụng vốn lẫn nhau thường xuyên xảy ra do các giao dịch mua, bán chịu. Tuy nhiên nếu khoản phải thu quá lớn trong thời gian dài sẽ không tốt vì rủi ro đối với việc thu hồi vốn cao.

Theo Chuẩn mực số 03 và 04 qui định một tài sản được ghi nhận là TSCĐ khi nó thoả mãn đồng thời 4  tiêu chuẩn sau đây :

  1. Chắc chắn thu được lợi ích kinh tế
  2. Nguyên giá xác định một cách đáng tin cậy

3.Thời gian sử dụng ước tính trên 1 năm

4. Đủ tiêu chuẩn giá trị (từ 10 triệu trở lên)

Người ta thường phân biệt TSCĐ theo hình thái biểu hiện và tính chất đầu tư.

Theo hình thái biểu hiện TSCĐ được chia thành:

–        TSCĐ hữu hình: là những tài sản của đơn vị thoả mãn điều kiện là TSCĐ và có hình thái vật chất cụ thể. Ví dụ như nhà cửa, máy móc thiết bị, phương tiện vận chuyển.

–        TSCĐ vô hình: là những tài sản của đơn vị thoả mãn điều kiện là TSCĐ, nhưng không có hình thái vật chất cụ thể, tuy nhiên để có tài sản đó đơn vị đã phải chi ra những khoản tiền nhất định.

Theo hình thái biểu hiện kết hợp với tính chất đầu tư, TSCĐ được phân biệt thành:

–        TSCĐ hữu hình tự có

–        TSCĐ vô hình tự có

–        TSCĐ thuê tài chính

–        TSCĐ tài chính

–        TSCĐ khác

Đối với nguồn vốn người ta lại thường phân loại theo nghĩa vụ tiền tệ của doanh nghiệp đối với nguồn vốn đó. Như vậy nguồn vốn thường được chia thành nợ phải trả vốn chủ sở hữu.